Monday, 17 November 2008

Bắt mạch tình trạng ô nhiễm tại TPHCM

Hiện chưa có số liệu chính thức về mức độ ô nhiễm môi trường do các xí nghiệp, nhà máy nằm lẫn trong các khu dân cư gây ra. Trong báo cáo của UBND TPHCM trong Hội nghị chuyên đề về môi trường do HĐNDTP tổ chức đầu tháng 10-2008 cũng chỉ có 3 dòng ngắn nói về tình trạng này: “Ngoài các khu công nghiệp, chế xuất, hệ thống kênh, rạch của thành phố còn phải tiếp nhận nước thải của khoảng 3.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ nằm phân tán bên ngoài”. Thế nhưng, trên thực tế những cơ sở vừa và nhỏ ấy đã và đang gây ra những hiểm họa rất lớn về môi trường.




  • Cứ đổ nước thải ra kênh, rạch-ai cũng làm thế mà?

Không cần phải quen biết trước, cứ ghé đại một quán cà phê có treo biển “Môi giới đất đai” ở huyện Củ Chi và ngỏ ý muốn tìm mua đất là bạn sẽ được hàng chục người môi giới đất nhiệt tình chào đón. Đất nhà, đất vườn, đất cho xây dựng nhà máy, xí nghiệp… đều có cả. Ngày 17-10-2008, trong vai người đi mua đất làm nhà máy may và nhuộm, chúng tôi đã ghé “Dịch vụ nhà đất A. M.” ở ấp 6, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi.


Chủ nhân của dịch vụ này, một người tên M. tầm 50 tuổi, chẳng cần biết chúng tôi là ai, sốt sắng giới thiệu 2 miếng đất có diện tích khoảng 5.000m2 mà theo anh là “rất hợp để mở nhà máy”. Miếng thứ 1 ở ấp 5 gần cầu Mười Lến rộng 4.200m2, cách mặt tiền tỉnh lộ 9 khoảng 1km nhưng có đường vào bằng đất đỏ, rộng 6m. Anh M. cho biết ở đấy “đã có một nhà máy chế biến gỗ”, nên xây thêm một nhà xưởng nữa thì “dễ như không” cho dù chính anh cũng thừa nhận: “Đang có nhiều dân sinh sống”. Miếng đất thứ 2, anh M. giới thiệu rộng hơn 6.000m2, nằm ở ấp 1, xã Bình Mỹ. “Nó nằm sát một con rạch rộng tới cả chục mét.


Con rạch này lại nối ra sông Sài Gòn nên các anh mua là tiện cả đường bộ lẫn đường thủy. Trong khu đất đang có một biệt thự nhưng chủ nhà không tính giá trị biệt thự mà chỉ tính tiền bán đất, khoảng 650.000 đồng/m2”, anh M. nói. Thấy miếng đất thứ 2 có vẻ “ngon”, chúng tôi đề nghị anh dẫn đi coi.


Đường vào khu đất thứ 2 là dải đất đỏ với hai bên là những ngôi nhà xanh mát bóng cây. Thấp thoáng đâu đó trong vườn nhà còn có những trang thờ… Một cuộc sống yên bình. Miếng đất anh M. chỉ cho chúng tôi nằm ở cuối đường. Chủ nhà đi vắng nhưng nhìn từ bờ rào vào quả là tiện cả đường sông lẫn đường bộ. “Nhưng trong khu dân cư thế này, người ta có cho chúng tôi mở nhà máy may và nhuộm không?”, chúng tôi giả bộ lo lắng hỏi. “Yên tâm, tôi bao lo vụ đó cho. Tôi sống bằng nghề này đã hơn 20 năm, đã bán hàng trăm miếng đất cho người ta làm nhà xưởng, chưa bao giờ nói sai”, anh M. khẳng định “như đinh đóng cột”. “Nhuộm là phải có nước thải mà đầu tư hệ thống xử lý nước thải, tốn kém lắm! Mua đất ở trong khu dân cư thế này, sợ ô nhiễm, dân kêu…”, chúng tôi tiếp tục than thở. Anh M. lại mau mắn: “Ở xung quanh đây có nhà máy, xí nghiệp nào xử lý nước thải đâu. Cứ đào một cái giếng, trữ nước thải trong đó rồi pha dần với nước sông, kênh… ai mà biết (!?)”.


Một người môi giới đất khác tên H. “đóng đô” tại một quán cà phê trên tỉnh lộ 15 cũng vồn vã không thua kém anh M. Nghe chúng tôi nói yêu cầu, anh ta đưa chúng tôi đi xem ngay một miếng đất rộng hơn 4.000m2 nằm ở xã Tân Hiệp. Miếng đất này cách rạch Cầu Xáng nối ra kênh An Hạ chừng hơn 10m. Giá ban đầu được đưa ra là 800.000 đồng/m2 “vì nằm gần nội thành TPHCM hơn Bình Mỹ”, anh H. giải thích sau khi nghe chúng tôi so sánh với giá đất ở Bình Mỹ. Ngắm nghía xong miếng đất, chúng tôi cũng hỏi: “Nằm trong khu dân cư thế này mà làm may, nhuộm, không có hệ thống xử lý nước thải… có sao không?”.


Anh H. cùng người chủ đất tên T. cười và chỉ cho chúng tôi xem Nhà máy giấy T.N. nằm cạnh đấy. “Thấy họ vứt đầy rác ra đây không? Rồi xem mấy con lạch nằm cạnh nhà máy kìa… Đỏ quạch… Có sao đâu (?!)”. Bức xúc với thái độ của người chủ đất, chúng tôi buộc miệng: “Anh là chủ đất ở đây sao lại thờ ơ với tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra trên chính mảnh đất quê hương của mình?”. Anh T. hơi khựng lại, phân bua: “Tôi đâu có bán đất cho Nhà máy giấy T.N. Hàng xóm của tôi gặp chuyện gấp phải bán. Thế nhưng, nước thải của nhà máy giấy làm cây trồng của tôi cằn cỗi hết. Trồng tỉa không được nên tôi mới buộc phải bán đất của mình”. Anh H. nói xen vào: “Bán đất được mấy tỷ, gửi ngân hàng lấy lãi… ngon hơn trồng lúa, làm vườn (?!)”.




  • Làng quê...không trong lành

Chúng tôi rất không muốn tin lời của những người môi giới đất đai ở Củ Chi về chuyện “cứ đổ nước thải ra kênh rạch… chẳng sao cả”. Thế nhưng, quả tình là rất khó bởi trên suốt dọc đường chúng tôi đi, nơi nào có nhà máy, xí nghiệp là gần như… nơi đó có mùi hôi thối nồng nặc phát ra. Đường Võ Văn Bích thuộc xã Bình Mỹ-một nơi có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên, là một nơi như vậy.


Bắt đầu từ ngay đầu đường chúng tôi đã cảm thấy có mùi khó chịu. Mùi này càng lúc càng nặng khi đến gần một nhà máy, xí nghiệp nào đó. Không biết mùi khó chịu ấy đã đủ căn cứ để kết tội các nhà máy, xí nghiệp này gây ô nhiễm chưa, song chỉ đi qua thôi mà đã cảm thấy nhức đầu nên… chúng tôi rất băn khoăn, lo lắng cho sức khỏe của những người dân sống quanh đấy. Chẳng lẽ chính quyền địa phương và ngành chức năng ở đây không thấy điều này?


Mùi hôi mới chỉ là một chuyện. Nước của các kênh, rạch nằm sát các nhà máy, xí nghiệp này cũng đáng sợ. Chúng vàng ệch, nổi váng lên, hầu như chẳng có cây, cỏ nào mọc được trên đó. P.L. một người dân địa phương đã dắt chúng tôi vào sâu trong những mảnh vườn “xưa kia xanh tốt” nay trống không với những cành cây khô héo. P.L. nói như phân bua với chúng tôi - những người khách phương xa: “Không người dân Củ Chi nào muốn “đưa” ô nhiễm về quê hương mình.


Thế nhưng, người nông dân chỉ có đất. Vì thế, khi gặp chuyện ngặt nghèo thì họ cũng chỉ có đất… để bán lấy tiền trang trải. Một nhà máy mọc lên được, làm chết cây cỏ xung quanh thì người dân quanh đấy cũng buộc phải bán như trường hợp ông T.”. “Đừng trách dân, vấn đề là chính quyền địa phương và ngành chức năng phải quản lý được chuyện xây cất của những nhà máy, xí nghiệp này”, P.L. nói


NGUYỄN KHOA-QUANG ĐẠT







Chất lượng môi trường TPHCM quý 3-2008


Ô nhiễm hữu cơ gia tăng


° Nồng độ các chất ô nhiễm từ hoạt động giao thông và từ khu dân cư trong quý 3-2008 đều đạt tiêu chuẩn cho phép. Kết quả quan trắc nồng độ CO tại các trạm quan trắc không khí ven đường trong quý 3-2008 đã giảm rõ rệt so với cùng kỳ năm 2007 và quý 2-2008.


° Kết quả quan trắc không khí từ các trạm quan trắc không khí bán tự động trong khu dân cư cho thấy: bụi là chỉ tiêu đáng lo ngại nhất khi có tới 82% giá trị quan trắc không đạt TCCP, tiếp theo là chỉ tiêu tiếng ồn cũng có 80% số liệu không đạt TCCP, đáng chú ý là hàm lượng chì (Pb) trong không khí đã giảm xuống đáng kể so với cùng kỳ năm 2007 và quý 2-2008 (giảm từ 1,1 đến 3,3 lần).


Tại 06 trạm quan trắc không khí bán tự động, tại ngã tư An Sương, ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ và ngã sáu Gò Vấp - những địa điểm tập trung nhiều phương tiện giao thông tiếp tục là điểm ô nhiễm nhất trong quý 3-2008, điều này được giải thích do lưu lượng phương tiện giao thông tham gia trên những tuyến đường này quá lớn, chất lượng đường sá kém, nạn kẹt xe liên tục xảy ra tại những nút giao thông trên.


+ Tại các trạm quan trắc nước sử dụng cho mục đích cấp nước: các chỉ tiêu: pH, DO, dầu và coliform có giá trị không đạt tiêu chuẩn loại A TCVN 5942:1995, ngoại trừ trạm Hóa An có các chỉ tiêu DO, BOD5 và COD đạt TCCP. Đáng chú ý là nồng độ BOD5 và COD so với cùng kỳ năm 2007 đang có xu hướng gia tăng ở đa số các trạm, trong đó tăng mạnh nhất là tại trạm Thị Tính, điều này chứng tỏ ô nhiễm hữu cơ đang có xu hướng di chuyển từ Bình Dương về TPHCM.


Tại các trạm quan trắc nước mặt sử dụng cho các mục đích khác: trong quý 3-2008, diễn biến độ pH, DO, BOD5, COD, dầu và coliform tại các trạm đa số đều đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước mặt loại B (TCVN 5942 – 1995).


° Chất lượng nước kênh rạch nội thành TPHCM: theo kết quả quan trắc, vị trí ô nhiễm nhất thuộc về trạm Ông Buông, trạm Hòa Bình trên kênh Tân Hóa – Lò Gốm, kế đến là trạm kênh Tham Lương thuộc hệ thống kênh Tham Lương – Vàm Thuật, ô nhiễm hữu cơ đang gia tăng tại đa số các trạm.


° Chất lượng nước ngầm: pH, TDS, độ cứng tổng tại các giếng thuộc tầng Pleistocen trong quý 3-2008 đều không đạt tiêu chuẩn cho phép về chất lượng nguồn nước ngầm (TCVN 5944 – 1995); hàm lượng coliform và E.coli ở các quận nội thành đa số đều đạt tiêu chuẩn cho phép TCVN, ngoại trừ trạm Tân Sơn Nhất chỉ đạt tiêu chuẩn nguồn nước loại C (TCXD 233 – 1999).


Đối với tầng Pliocen, một số chỉ tiêu cần lưu ý: pH ở tầng này rất thấp, các khu vực như Hóc Môn, Củ Chi, quận 12, Thủ Đức bị nhiễm vi sinh nặng, quận Bình Tân, Bình Chánh bị nhiễm phèn rất cao. Nhìn chung, mức độ ô nhiễm chủ yếu tập trung ở các vùng ngoại thành.


° Chất lượng nước biển ven bờ:
Khu vực nuôi thủy sản và bãi tắm: hầu hết các chỉ tiêu đều đạt TCVN 5943:1995; tuy nhiên cần lưu ý chỉ tiêu coliform, trong quý 3-2008 có 22% giá trị quan trắc không đạt TCCP, dầu mỡ ở các trạm quan trắc ở tất cả các khu vực cửa sông, bãi nghêu, khu du lịch đều không đạt tiêu chuẩn cho phép 


 


Bài 2: Di dời đi đâu?


Theo Sở Tài nguyên - Môi trường TPHCM, tính đến thời điểm này vẫn còn gần 20 cơ sở nằm trong danh sách phải di dời ra khỏi khu dân cư chưa biết đến bao giờ mới… di dời; gần 40 cơ sở khác cũng nằm trong danh sách này nhưng khá hơn là tuy chưa di dời nhưng đã có… kế hoạch di dời. Ngoài ra còn có hàng trăm cơ sở “lọt” khỏi danh sách song cũng đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng ở các khu dân cư.

Thấy là... sợ



<

No comments: